Bài văn phân tích bài thơ tây tiến của quang dũng độc đáo nhất

By   Administrator    14/02/2020

Viết về hình ảnh những người lính thời kháng chiến chống Pháp không thể quên bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Cùng phân tích bài thơ Tây Tiến nhé.

1. Phần mở bài - Viết tổng quan về hoàn cảnh ra đời bài thơ

Viết về hình ảnh những người lính thời kháng chiến chống Pháp không thể không nhắc đến bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Bài thơ với âm điệu hào sảng, oai hùng, bi tráng giúp cho chúng ta như sống về những năm tháng, cùng đồng hành cùng với các anh lính “quyết tử vì tổ quốc sinh”. Từ đó, giúp mỗi con người chúng ta biết trân trọng những giá trị hiện tại, tri ân muôn đời với sự hy sinh cao cả của các anh.

Quang Dũng, một con người đa tài, không chỉ giỏi vẽ tranh, làm thơ mà ông hát cũng rất hay. Nhưng mọi người biết nhiều đến ông qua những bài thơ và trong số đó phải kể đến bài thơ Tây Tiến. Với phong cách thơ hào hùng, bi tráng mà vẫn lãng mạn, Tây Tiến đã đi vào người vào lòng người qua bao thế hệ.

Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

2. Thân bài - Phân tích rõ chi tiết từng câu thơ

Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ như ùa về, không kìm nén được mà nhà thơ Quang Dũng đã viết lên:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Quên sao được những ngày hành quân, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. Đó không chỉ là nỗi nhớ của riêng mình nhà thơ mà còn là nỗi nhớ của tất cả anh em đồng chí. Một nỗi nhớ đặc biệt “chơi vơi”, người đọc như có thể cảm nhận được trạng thái cụ thể của nỗi nhớ. Cảnh vật như vẫn còn hiện ngay trước mắt, quên sao được “sông Mã”, “Mường Lát” “Sài Khao”... Đặc biệt khi mà tác giả dùng từ cảm thán “ơi” và lặp vần “ơi” khiến cho nỗi nhớ lại càng da diết, khôn nguôi. “Mường Lát hoa về trong đêm rơi”, một câu thơ đầy chất nghệ thuật. Sự đặc biệt ở đây là việc sử dụng từ “hoa” của nhà thơ Quang Dũng. Có phải đó là những bông hoa rừng được các anh nhìn thấy trong ánh sáng hiu hắt của màn đêm. Nó tượng trưng cho vẻ đẹp, của ánh sáng hy vọng trong đêm tối, cho chính cuộc chiến đấu sẽ giành được thắng lợi. Hay từ “hoa” là nghĩa ẩn dụ tượng trưng cho những người lính hay phải chăng là những bó đuốc chỉ đường trong đêm tối? 

Cuộc hành quân không ngừng nghỉ, qua nắng rừng sương đêm, qua những ngọn núi đầy trắc trở.  Bốn câu thơ đã vẽ lên một bức tranh của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc mang vẻ đẹp hùng dũng, hoành tráng nhưng cũng đầy hiểm trở, gian nan.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm.

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Chặng đường hành quân thật lắm chông gai không chỉ “khúc khuỷu” mà còn “thăm thẳm”. Câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” với nhịp 4/4 như bẻ đôi câu thơ khiến cho người đọc tiếp tục cảm thấy những khó khăn đang chồng chất khó khăn mà các chiến sĩ phải trải qua. Thế mà các anh vẫn hóm hỉnh, yêu đời lắm. Trong phút chốc dừng chân trên ngọn núi cao hàng ngàn thước tưởng chừng như chạm đến mây, đầu mũi súng hướng lên trên mà các anh ví von như “súng ngửi trời”. Các anh cũng nhẹ nhàng phóng tầm mắt mình ngắm đất trời, ngắm những ngôi nhà của làng Pha Luông xa xa trong màn mưa rừng, sương núi bao quanh.

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa,

Gục lên súng mũ bỏ quên đời.”

Thế rồi các anh lại tiếp tục cuộc hành trình của mình vượt qua những dãi dầu của nắng, mưa. Ý chí của các anh vẫn không ngừng tiến bước nhưng những khắc nghiệt đã níu chân người chiến sĩ.

Nhà thơ Quang Dũng đã dùng biện pháp tu từ nói giảm nói tránh về sự hi sinh của các anh “không bước nữa”, “bỏ quên đời”. Cái chết ấy nó nhẹ nhàng tựa như các anh chỉ đang đi vào giấc ngủ mà thôi, chợp mắt một lúc “gục lên súng mũ” để chuẩn bị cho cuộc hành trình tiếp theo. Sự hy sinh cao ấy ta còn bắt gặp trong tác phẩm “Dáng đứng Việt Nam”

“Và anh chết khi đang đứng bắn

Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng”

Các anh đẹp lắm, các anh chấp nhận cái chết, hiểu đó là điều tất yếu để có được hòa bình. Nỗi đau để lại cũng như đó cũng chính là sức mạnh tiếp bước cho các đồng đội tiếp tục hoàn thành sứ mệnh quốc gia dân tộc. 

Dường như núi rừng Tây Bắc vẫn không dịu đi trước sự ra đi của một số chiến sĩ đồng đội.

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét,

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Không phải là con thác êm đềm nước chảy, róc rách tiếng nước kêu, nhà thơ Quang Dũng đã nhân hóa con thác ấy “gầm thét” dữ dội, thiên nhiên bí hiểm thách thức cả con người “cọp trêu người”. Sự nguy hiểm, dữ tợn ấy không chỉ diễn ra một lần mà thường xuyên, liên tục lặp lại ngày này qua ngày khác “chiều chiều”, “đêm đêm”. Các từ láy chỉ sự lặp lại vô hạn của thời gian ấy khiến cho chúng ta cảm thấy được những nguy hiểm, sự rình rập của cái chết sẵn sàng bủa vây các anh lính bất cứ lúc nào của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc.

Bài thơ là nỗi nhớ Tây Tiến, đồng đội của nhà thơ, có lẽ vì thế mà các câu thơ bị cảm xúc đó chi phối. 

“Nhớ ôi! Tây Tiến cơm lên khói,

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”

Nhớ sao Tây Tiến thân thương qua việc sử dụng từ cảm thán “nhớ ôi” nhẹ nhàng nhưng mãnh liệt. Quên sao được những “đặc sản” của binh đoàn “cơm lên khói”. Dù có thiếu thốn, nhưng tình đồng chí, đồng đội quay quần bên nhau mới là tất là, là những bữa cơm tinh thần tiếp bước cho các anh sức mạnh. Nhà thơ vẫn không quên những đợt hành quân qua Mai Châu, được gặp những cô gái Thái, được thưởng thức những hạt gạo nếp của vụ mùa thu hoạch đầu tiên. Câu từ của nhà thơ miêu tả thật thi vị “mùa em”, “thơm”, đó không chỉ nét đẹp của cô gái Thái, vị ngon thanh nhã của xôi mà các anh như cảm nhận được tấm chân tình của những con người Tây Bắc dành cho chính mình.

Theo cảm xúc của nỗi nhớ nhà thơ lại nhớ về:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,

Kìa em xiêm áo tự bao giờ.

Khèn lên man điệu nàng e ấp,

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.”

Để tiếp sức cho người lính, binh đoàn luôn có những trạm dừng chân để cho các anh giao lưu với người dân. Một không khí lãng mạn được thổi bùng lên trong đêm văn nghệ hiếm có ấy. Các anh như tạm quên đi súng đạn, hòa mình vào không khí vui tươi của tiếng khèn, những điệu múa… Ánh sáng rực rỡ, cháy đượm nồng nàn của những ngọn đuốc mà nhà thơ thấy như “hội đuốc hoa”. Những cô gái xinh xắn khoác lên mình những bộ váy áo xinh nhất mà các anh ngỡ ngàng tự thốt lên “tự bao giờ”. Các cô gái chính là trung tâm của đêm hội mang vẻ đẹp e thẹn, tình tứ, mềm mại, duyên dáng đã thu hút hồn vía của các chàng trai Tây Tiến. Thật đẹp làm sao giữa tình quân dân, của tình yêu nhiệt huyết đầy mộng mơ tuổi trẻ. Đêm hội lửa chắc chắn rất vui, rất thơ mộng dù ở biên giới Việt Lào. Có lẽ theo tình yêu gửi trọn đến phương xa vì thế mà nó đã có thể “về Viên Chăn xây hồn thơ”.

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?

Có nhớ dáng người trên độc mộc,

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?”

Trong cảm xúc nhớ thương về khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc mà nhà thơ đặc biệt nhớ về Mộc Châu.  Câu hỏi tu từ được nhà thơ sử dụng thật độc đáo “Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?” dường như nhà thơ không phải để hỏi bất cứ ai mà nhằm khẳng định mình không thể quên được nó. Nó ở đây là những bông lau cũng có “hồn” có tâm tư tình cảm như con người. Người ra đi, mang theo nỗi buồn mang mác khiến cho cỏ cây cũng thấm đượm nỗi buồn đó. Dáng người khỏe khoắn của con người Tây Bắc trên chiếc thuyền độc mộc tạo cùng những bông hoa rừng trôi theo dòng nước lũ. Tất cả đã tạo nên một bức tranh đẹp mang chút lãng đãng, hờ hững của buổi chiều sương giăng lối của miền sơn cước.

Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Thật ấn tượng khi những hiện thực khó khăn mà các chiến sĩ phải trải qua qua ngòi bút của nhà thơ Quang Dũng:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”

Những trận sốt rét rừng thật ghê rợn, nó khiến cho tóc các anh rụng hết đi. Thế mà nhà thơ lại có cách nói rất tinh nghịch “không mọc tóc”. Sốt rét rừng còn thậm chí khiến da các xanh xao. Màu xanh ấy giống như màu xanh của lá cây rừng, những chiếc áo ngụy trang của các anh càng làm tăng thêm “oai hùm”. Phong thái kiên quyết, không một chút u mỳ “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới”. Phải chăng cái “mắt trừng” ấy là lời đe dọa đến quân đội Pháp đang đóng chiếm ở Thượng Lào. Và một giấc mộng tươi đẹp về sự hòa bình sẽ sớm được lập lại giữa hai nước Việt – Lào, quyết tâm đánh đuổi giặc Pháp.

Các chiến sĩ vốn xuất thân là chàng trai Hà Thành, tuổi mới đôi mươi vẫn còn tình yêu mãnh liệt của tuổi trẻ. Nhưng nghe theo tiếng gọi của tuổi trẻ, các anh ra đi để lại gia đình, bạn bè và tình yêu của mình ở lại. Để rồi trong giấc mơ của mình các anh lại trở về với tình yêu của mình.

Trên con đường hành quân gian khổ, bom đạn của kẻ thù, của những cơn sốt rét rừng, sự nguy hiểm của thú dữ và muôn vàn khó khăn khác các anh đã nằm xuống:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Áo bào thay chiếu, anh về đất,

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”

Nơi các anh nằm xuống là “biên cương” xa xôi, “rải rác” trên chặng đường hành quân. Sự thiếu thốn của tư trang, thiết bị “đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ (bài thơ Đồng Chí), để khi về với đất mẹ, các anh chỉ có tấm chiếu mỏng manh. Nhưng dưới con mắt của nhà thơ, chiếc chiếu mỏng manh ấy chính là “áo bào”. Cách nói “áo bào thay chiếu” là cách nói bi tráng hóa, tráng lệ hóa sự hy sinh của người lính. Các anh chả hề khó khăn, sợ cái chết ở độ tuổi nhiệt huyết, tươi mới nhất “đời xanh”. Tính chất bi tráng thể hiện rõ trong đoạn thơ này, sự hy sinh của các anh khiến cho “sông Mã gầm lên khúc độc hành”, thiên nhiên phải gào thét lên. Tất cả đã tôn vinh cho sự ra đi đầy hiên ngang, bất khuất của những chiến sĩ can trường, chẳng tiếc chi tuổi trẻ, thanh xuân.

“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi.

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.”

Đọc bốn câu thơ cuối, chúng ta như cảm nhận được một không gian mở, nỗi nhớ ấy sẽ mãi không ngừng, chứ không vụt tắt đi. Những con người từ mọi miền đất nước nghe theo tiếng gọi để trở thành một binh đoàn Tây Tiến đầy sức mạnh. Sự chia xa ấy có thể là khoảng cách, không gian nhưng trong tâm trí các anh luôn nhớ về, mãi luôn trong tâm trí của nhau. Con người, thiên nhiên Tây Bắc cũng như nước bạn Lào dường như đã “bắt cóc” tâm hồn chiến sĩ: “Hồn về Sầm Nứa” chẳng về xuôi”. Và đó cũng chính là một lời thề chắc nịch, thủy chung của các chiến sĩ cho miền đất ấy.

3. Kết bài - Nêu cảm nhận chung về tác phẩm

Bài thơ là một bản anh hùng ca của những chiến sĩ. Sự tài tình trong bút pháp lãng mạn hòa trong bút pháp tả thực đã lột tả được những khó khăn mà người lính phải trải qua nhưng các anh vẫn luôn mang trong mình nét tươi vui, trẻ khỏe của độ tuổi hai mươi. Đất trời Tây Bắc dẫu có khắc nghiệt mà vẫn mang vẻ đẹp thơ mộng , thân thương.

>> Xem thêm bài văn mẫu: