Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương hay nhất

By   Administrator    14/02/2020

Bác mang lại cảm hứng sáng tác nhiều nhà văn, nhà thơ. Trong đó không thể không kể đến nhà thơ Viễn Phương với tác phẩm “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương.

1. Hoàn cảnh ra đời bài thơ "Viếng lăng Bác"

Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Bác mang lại cảm hứng sáng tác cho bao thế hệ nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn. Trong đó không thể không kể đến nhà thơ Viễn Phương với tác phẩm “Viếng lăng Bác”. Viễn Phương thay mặt tất cả mọi người đặc biệt là đồng bào miền Nam thể hiện sự biết ơn vô hạn đến tình yêu, sự hy sinh vô tận của Bác cho dân tộc Việt Nam.

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Mỹ giành được thắng lợi vào năm 1976, nhà thơ Viễn Phương từ miền Nam ra thăm Bác và bài thơ đã được ra đời vào hoàn cảnh đó. Là một trong những thế hệ người đại diện đầu tiên của miền Nam ra thăm Bác. Nhà thơ đã không giấu nổi niềm cảm xúc, tự hào.

Tìm hiểu thêm: Cách lập dàn ý

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác của Viễn Phương

2. Phân tích rõ chi tiết từng câu thơ

“Con ở miền Nam ra thăm Bác”

Cách xưng hô thật chân thật, gần gũi làm sao. Viễn Phương xưng “con” với Bác bởi “Người là cha, là bác, là anh”. Cả cuộc đời của Người dành chọn cho non sông, đất nước Việt. Người con ấy cất công xa xôi, từ miền Nam ra thăm Bác để cùng Bác chung vui niềm hạnh phúc khi cuộc chiến tranh xâm lược đã chấm dứt trên đất nước ta. Một miền Nam đã chịu nhiều gian khổ nhưng vẫn luôn anh hùng. Tình cảm của Bác dành cho miền Nam thật sâu nặng, Bác yêu thương con dân miền Nam rất nhiều. Chính vì thế trong bài thơ “Bác ơi” của tác giả Tố Hữu đã viết:

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”

Nay đất nước đã hòa bình, tự do được lập lại nhưng Bác đã không còn. Thật chua xót biết bao, chính vì thế nhà thơ Viễn Phương đã sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng”. Nó như lời khẳng định Bác vẫn còn mãi với non sông, Bác cũng đang hòa chung niềm hạnh phúc với toàn thể nhân dân khi nước nhà được thống nhất, Bắc Nam sum vầy.

“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát,

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam,

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.”

Từ xa, nhà thơ đã thấy hàng tre đang tỏa bóng bên lăng, ẩn hiện trong làn sương khói. Làn sương khói đã tạo nên không khí linh thiêng, thành kính, huyền thoại. Từ “Ôi” được tách thành một câu riêng, thể hiện cảm xúc ngỡ ngàng. Cây tre làng quê ấy nay đã được trở về bên Bác. Cây tre biểu tượng cho tinh thần bất khuất, kiên cường, không bao giờ chịu khuất phục của con người Việt Nam. “Nòi tre đâu chịu mọc cong

Chưa lên đủ nhọn như chông lạ thường”

Hàng tre từ bao đời bảo vệ thành lũy, cùng Thánh Gióng chống giặc Ân, rồi đến trong cuộc kháng chiến chống Pháp “Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”. Hình ảnh hàng tre “đứng thẳng hàng” dù có “bão táp mưa sa” còn tượng trưng cho phẩm chất con người Việt Nam: hiên ngang, đoàn kết, oai hùng, dẻo dai. Giờ đây, hàng tre ấy trở về bên Bác, tỏa xanh bóng mình cho giấc ngủ ngàn thu của Người. 

Đã có rất nhiều nhà thơ dùng hình ảnh mặt trời trong tác phẩm của mình như “Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng - Nguyễn Khoa điềm. Em bé chính là mặt trời của mẹ, sức mạnh cho mẹ vượt qua mọi mệt nhọc, khó khăn. Viễn Phương cũng vậy, nhưng nhà thơ sử dụng hình ảnh “mặt trời” với một ý nghĩa khác và cũng đầy thành kính:

“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.”

Sự tài tình của nhà thơ khi vừa kết hợp hình ảnh tả thực và hình ảnh ẩn dụ sánh đôi với nhau khiến cho hai câu thơ trên thật sinh động. Một “mặt trời” ngày ngày đi qua trên lăng đó chính là mặt trời của tự nhiên, vĩnh hằng, mang lại sức sống cho muôn loài, cỏ cây, hoa la. Mặt trời trên cao được nhân hóa, nhìn mặt trời trong lăng bằng đôi mắt của mặt trời. Nhưng dường như nó cảm thấy mình còn thua kém rất nhiều so với “mặt trời trong lăng”. “Mặt trời trong lăng” ấy rất khác biệt “ rất đỏ”, mặt trời ấy là hình ảnh ẩn dụ cho Bác. 

Bác chính là nguồn ánh sáng của Đảng, của dân tộc Việt Nam, nhờ ánh sáng của Bác qua đường lối chỉ đạo đúng đắn đã mang đến nguồn sinh lực, sự phát triển cho đất nước ta ngày nay. Việc nhà thơ Viễn Phương đặt so sánh ngang hàng mặt trời của tự nhiên với Bác như lời khẳng định chắc nịch: Bác sẽ còn mãi với non sông, vĩnh hằng với thời gian và mãi trong tim người dân đất Việt. Tình cảm ấy thể hiện qua những cảm nhận rất riêng của nhà thơ khi cùng đoàn người đi vào lăng.

“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

Điệp ngữ “ngày ngày” một lần nữa được nhắc lại và hình ảnh “dòng người đi trong thương nhớ” đã diễn tả sự yêu thương vô bờ bến của tất cả mọi người, nỗi nhớ khôn nguôi về Bác. Với nhịp thơ chậm rãi, chúng ta có thể cảm nhận được không khí của đoàn người xếp vào lăng, không ồn ào to nhỏ mà thành kính trang nghiêm, ngậm ngùi nhớ đến Bác. 

Dòng người đông đúc ấy làm nhà thơ liên tưởng:

 “Kết thành tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

Tràng hoa ấy không phải là tràng hoa bình thường, đó là tràng hoa đẹp đẽ nhất mà nhà thơ thay mặt cho tất cả mọi người muốn dâng lên Bác. Tràng hoa ấy tượng trưng cho thành quả của Bác đã tạo dựng, đem lại ánh ánh sáng cho thế hệ sau, là đàn con nay trở về mang những trái ngon quả ngọt dành cho Người. Nhà thơ không dùng cách bảy mươi chín tuổi mà hình ảnh hoán dụ “bảy mươi chín mùa xuân”. Mùa xuân là mùa tươi đẹp nhất trong năm, là mùa sinh hoa kết trái. Với cách ví von này nhà thơ như muốn tôn vinh Bác, cả cuộc đời, sự nghiệp của Bác thật đẹp, đẹp như mùa xuân của thiên nhiên vậy. Và mùa xuân ấy đã mang lại sức xuân cho cả dân tộc.

Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
Bài văn phân tích "Viếng Lăng Bác" hay nhất

Vào bên trong lăng Bác thấy Bác nằm đó, nhà thơ không khỏi nỗi niềm xúc động. Một khung cảnh thật thanh bình đến lạ:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”

Không khí trong lăng lại thinh lặng hơn bao giờ hết. Mỗi người như lắng lại, như trở về hơi thở cũ, bên Bác ngắm nhìn Bác thật lâu. Giữa ánh đèn mờ ảo, Bác vẫn nằm đó, Bác đâu có mất, Người chỉ nằm nghỉ ngơi sau 79 mùa xuân cống hiến cho đời. Từ ánh đèn mở áo đó, mà nhà thơ liên tưởng Bác đang nằm nghỉ “giữa một vầng trăng sáng”. Trước đây, khi đất nước còn gian lao, việc quân việc nước còn bận, nhưng trăng đã đồng hành cùng Bác:

“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.”

(Ngắm trăng)

Hay:

“Trăng vào cửa sổ đòi thơ

Việc quân đang bận xin chờ hôm sau”

(Tin thắng trận)

Nay người nằm đó, trăng cũng không bỏ người mà đi. Dường như trăng nguyện tình suốt đời, suốt kiếp soi tỏa ánh sáng “dịu hiền” cho giấc ngủ ngàn thu của Bác. 

Dù nhà thơ Viễn Phương đã cố dặn lòng, Bác vẫn ở đó, Bác vẫn còn sống mãi trong tâm hồn của non sông, mọi người. Nhưng nhà thơ vẫn không thể ngậm ngùi, chua xót:

“Dẫu biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim”

Cặp quan hệ từ “vẫn biết” – “mà sao” diễn đạt cái diễn biến không lường được , không kiểm soát nổi cảm xúc của tác giả, của người về muộn bên di hài Người cha tôn kính. Bác chính là “trời xanh” trường tồn mãi mãi. Bác vẫn sống để mang đến thanh bình, màu xanh hy vọng cho muôn nơi. Nhưng chỉ một từ “nhói” thôi đã phá tan sự lý trí ấy. Nó như ngàn mũi tên đâm sâu vào trái tim nhà thơ. Đau lắm, làm sao chịu đựng hiện thực phũ phàng: Bác đã không còn ở đây. Mất đi Bác đất nước Việt Nam dường như mất đi đầu tàu của mình. Bác sẽ chẳng thể theo dõi chúng ta, nâng đỡ chúng ta trên từng vấp ngã. Nhưng có một điều tin chắc rằng, dù Bác đã ra đi thì những lời dạy của Bác sẽ được người dân học tập không ngừng, cố gắng phát triển. 

Có những cuộc gặp mặt nào lại không phải chia xa. Vì quá thương yêu Bác, dù hiện tại vẫn đứng nơi đây, trong lăng Bác nhà thơ đã nghĩ đến ngày mai phải chia xa:

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”

Thương lắm người ơi, hòa bình lặp lại nhà thơ mới có dịp ra thăm Bác mà sắp phải trở về. Câu thơ với nhịp thơ chậm rãi, như chính nỗi lòng của tác giả vậy. Không biết bao giờ mới có dịp ra thăm Bác nữa, nghĩ đến ngày mai mà “tuôn trào nước mắt”. Là một chiến sĩ vào sinh ra tử, cương quyết đối với kẻ thù, gian nan không sợ, khó khăn không chùn. Nhưng với Bác nhà thơ không thể kìm lòng, tình cảm chân thành, tôn kính khiến nước mắt ấy không thể chảy ngược vào trong. Nước mắt ấy “tuôn trào”, như muốn phá tan sự chia xa, nhà thơ cũng chỉ là đứa con bé bỏng của cha, chỉ muốn được cha vỗ về mà thôi.

Có lẽ khi phải chia xa thì con người ta luôn muốn những điều tốt đẹp nhất với những người ở lại. Viễn Phương cũng vậy, nhà thơ có những ước mong tốt đẹp nhất dành cho vị lãnh tụ vĩ đại:

“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.”

Điệp ngữ “muốn làm” lặp lại 3 lần thể hiện ước nguyện thành kính, tự nguyện muốn hóa thân thành những điều nhỏ nhất để được ở bên Bác. Những điều nhỏ bé nhất chỉ muốn dâng lên người. Khúc hát của tiếng chim, hay một đóa hoa nhỏ xinh lan tỏa hương thơm xung quanh lăng bác, một cây tre “trung hiếu”ngàn đời.  Một lần nữa, hình ảnh cây tre được lặp lại, tạo nên vòng tròn khép kín cho sự chung nghĩa, thủy chung của con người Việt Nam đối với Bác.

Bài thơ tưởng chừng như khép lại về khoảng cách địa lý, nhưng lại được nối kết  với nhau bằng tình cảm chân thành nhất. Dù có phải chia xa, tấm lòng của những người con vẫn mãi ở đó, vẫn mãi bên Người. Bác yên tâm nhé, không cần phải lo lắng cho chúng con, chúng con sẽ ra về, trở về miền Nam tiếp tục hành trình xây dựng đất nước như lời Bác đã dạy. Tấm lòng ấy không chỉ là của riêng nhà thơ Viễn Phương mà đó là tiếng lòng của rất nhiều người.

Tìm hiểu thêm: Bài văn phân tích bài thơ Tây tiến của Quang Dũng

3. Kết luận

Viếng lăng Bác, lời tâm tình của những đứa con nhỏ với người cha vĩ đại. Một bài thơ có cách sử dụng ngôn từ đơn giản nhưng rất độc đáo, thấm đượm tâm tình. Dường như bất cứ ai khi đọc lên đều có một chút gì đó bồi hồi, xúc động. Nhà thơ đã rất thành công khi truyền được cảm xúc của mình đến với người đọc bởi cảm xúc của cả đồng bào Nam bộ nói riêng của dân tộc nói chung. 

>> Tham khảo thêm: